Việc xác định vùng nào có mật độ dân số thấp nhất ở Việt Nam không chỉ là một câu hỏi địa lý đơn thuần, mà còn phản ánh sự phân bổ dân cư phức tạp, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội. Dựa trên các số liệu thống kê dân số chính thức, đặc biệt là Tổng điều tra dân số năm 2026 và các báo cáo cập nhật, câu trả lời cho thấy những vùng miền núi khó khăn, đồi núi trải rộng là nơi có mật độ dân số thấp nhất. Cụ thể, vùng núi phía Bắc và một phần của vùng Tây Nguyên thường xuyên nắm giữ vị trí có chỉ số mật độ dân số thấp nhất cả nước. Bài viết này sẽ phân tích chi tiết, dựa trên dữ liệu, về các khu vực này, các yếu tố hình thành nên sự phân bổ đó và những xu hướng thay đổi trong thời gian gần đây.
Tóm Tắt Các Điểm Chính
Mật độ dân số thấp nhất tại Việt Nam tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc như Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai và một số tỉnh vùng Tây Nguyên như Kon Tum, Gia Lai. Nguyên nhân chính bao gồm địa hình núi cao, khí hậu khắc nghiệt, hệ thống thủy lợi hạn chế và cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn. Sự phân bổ này là hệ quả lâu dài của quá trình hình thành lịch sử, chính sách phát triển và di cư tự nhiên. Trong khi các vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long có mật độ dân số cao nhất, thì các vùng núi và cao nguyên vẫn duy trì mật độ rất thấp, với nhiều huyện có mật độ dưới 50 người/km².
Có thể bạn quan tâm: Jollibee Của Nước Nào? Nguồn Gốc Và Sự Phát Triển
Khái Niệm Về Mật Độ Dân Số và Phương Pháp Xác Định
Mật độ dân số là một chỉ số địa lý – nhân khẩu học quan trọng, được tính bằng số người sinh sống trên một đơn vị diện tích (thường là người trên một kilômét vuông – người/km²). Nó phản ánh mức độ tập trung dân cư trên một lãnh thổ cụ thể. Để xác định “vùng nào có mật độ dân số thấp nhất”, chúng ta cần so sánh chỉ số này giữa các đơn vị hành chính cấp tỉnh, và quan trọng hơn là ở cấp huyện, nơi sự khác biệt cực lớn có thể xảy ra.
Việc xác định dựa trên dữ liệu chính thức từ Tổng điều tra dân số và nhà ở do Tổng cục Thống kê thực hiện là phương pháp khách quan và đáng tin cậy nhất. Số liệu từ cuộc Tổng điều tra dân số năm 2026 và các báo cáo giữa kỳ cung cấp bức tranh tổng quan rõ ràng nhất về sự phân bổ dân số trên phạm vi cả nước. Khi nói về “vùng”, chúng ta có thể hiểu theo hai góc độ: theo vùng kinh tế – xã hội (Vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ…) hoặc theo đơn vị hành chính cấp tỉnh. Phân tích dưới đây sẽ kết hợp cả hai cách tiếp cận.
<>Xem Thêm Bài Viết:<>- Đơn Xin Ly Hôn Xin Ở Đâu: Hướng Dẫn Chi Tiết Từ A Đến Z
- Biển Số 37 Là Ở Đâu? Giải Mã Biển Số Tỉnh Nghệ An
- Giải Mã Ý Nghĩa Bộ Bàn Ghế Tần Thủy Hoàng Cho Gia Chủ Hiện Đại
- Lựa Chọn Địa Chỉ Trồng Răng Implant Tốt TPHCM Hiện Nay
- Vua Hùng Thứ 18 Là Ai? Sự Thật Lịch Sử Đằng Sau 18 Dòng Họ Triều Đại Hùng Vương
Có thể bạn quan tâm: Gió Mùa Đông Bắc Hoạt Động Mạnh Mẽ Nhất Ở Khu Vực Nào Của Nước Ta?
Phân Tích Mật Độ Dân Số Theo Từng Vùng Kinh Tế – Xã Hội
Việt Nam thường được chia thành 8 vùng kinh tế – xã hội. Sự khác biệt về mật độ dân số giữa các vùng là cực kỳ rõ rệt.
1. Vùng Đồng Bằng Sông Hồng và Đồng Bằng Sông Cửu Long
Đây là hai vùng có mật độ dân số cao nhất cả nước. Đồng bằng sông Hồng, mặc dù diện tích nhỏ, là nơi tập trung hơn 20% dân số quốc gia với mật độ trung bình trên 1.000 người/km², một số huyện trung tâm có mật độ lên đến trên 2.000 người/km². Đồng bằng sông Cửu Long cũng có mật độ tương tự, trên 400 người/km². Nguyên nhân là do điều kiện tự nhiên thuận lợi (đất phù sa màu mỡ, hệ thống sông ngòi phong phú), là nơi khởi nguồn của nền văn minh lúa nước và trung tâm kinh tế, chính trị lâu đời.
2. Vùng Duyên Hải Miền Trung và Đông Nam Bộ
Các vùng này có mật độ dân số trung bình, dao động từ khoảng 200 đến 500 người/km². Các thành phố lớn như Đà Nẵng, Quảng Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu có mật độ cao hơn do đô thị hóa, trong các tỉnh ven biển khác mật độ vẫn ở mức trung bình.
3. Vùng Tây Nguyên
Đây là vùng có mật độ dân số thấp hơn đáng kể so với đồng bằng. Mật độ trung bình của toàn vùng dao động từ 80 đến 120 người/km². Tuy nhiên, sự chênh lệch bên trong vùng rất lớn. Các tỉnh như Kon Tum và Gia Lai có mật độ dân số thấp nhất trong vùng này, với nhiều huyện vùng sâu, vùng xa có mật độ dưới 50 người/km². Nguyên nhân chủ yếu là do địa hình cao nguyên với nhiều đồi núi, đất đai cằn cỗi, khí hậu có mùa khô kéo dài, và lịch sử hình thành muộn hơn.
4. Vùng Núi Phía Bắc
Đây chính là vùng có mật độ dân số thấp nhất cả nước. Mật độ trung bình của vùng núi phía Bắc (bao gồm các tỉnh từ Lào Cai đến Lạng Sơn, Hà Giang) thường dưới 100 người/km², nhiều nơi chỉ còn 30-50 người/km². Các tỉnh như Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai liên tục nằm ở nhóm cuối cùng về mật độ dân số. Địa hình hiểm trở (núi cao, thung lũng hẹp), khí hậu lạnh và khắc nghiệt, thường xuyên xảy ra thiên tai, cùng với hạ tầng giao thông khó khăn là những rào cản lớn đối với sự định cư và phát triển kinh tế.
Có thể bạn quan tâm: Cambodia Là Nước Nào
Danh Sách Các Tỉnh Có Mật Độ Dân Số Thấp Nhất (Dựa trên Số Liệu 2026)

Có thể bạn quan tâm: Phát Biểu Nào Sau Đây Không Đúng Về Vị Trí Địa Lý Của Nước Ta?
Dựa trên báo cáo tổng hợp từ Tổng điều tra dân số 2026 và các nguồn thống kê sau đó, dưới đây là danh sách các tỉnh/thành phố có mật độ dân số thấp nhất (xếp hạng từ thấp nhất đến cao hơn):
- Hà Giang: Mật độ dân số trung bình khoảng 65 người/km². Nhiều huyện vùng biên giới như Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ có mật độ chỉ từ 20-40 người/km².
- Lai Châu: Mật độ trung bình khoảng 70 người/km². Các huyện vùng sâu Tam Đường, Mường Tè, Phong Thổ có mật độ rất thưa thãt.
- Điện Biên: Mật độ trung bình khoảng 75 người/km². Huyện Mường Nhé, Tuần Giáo là những nơi có mật độ dưới 50 người/km².
- Sơn La: Mật độ trung bình khoảng 85 người/km². Dù có diện tích lớn, nhưng địa hình phức tạp khiến dân cư tập trung chủ yếu ở các thung lũng và các khu vực có đồng bằng nhỏ.
- Lào Cai: Mật độ trung bình khoảng 90 người/km². Huyện Bắc Hà, Mường Khương có mật độ thấp.
- Kon Tum: Mật độ trung bình khoảng 95 người/km². Đây là tỉnh có diện tích lớn nhất vùng Tây Nguyên nhưng địa hình núi cao chiếm ưu thế.
- Gia Lai: Mật độ trung bình khoảng 100 người/km². Các huyện như Mang Yang, Đắk Đoa, Ia Grai có mật độ dưới 60 người/km².
- Cao Bằng: Mật độ trung bình khoảng 105 người/km².
- Lạng Sơn: Mật độ trung bình khoảng 110 người/km².
Lưu ý quan trọng: Trong số các tỉnh trên, Hà Giang thường xuyên giữ vị trí có mật độ dân số thấp nhất theo số liệu trung bình của toàn tỉnh. Tuy nhiên, nếu xét ở cấp huyện, có những huyện vùng sâu, vùng xa thuộc các tỉnh như Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Kon Tum có mật độ dân số thậm chí thấp hơn cả một số huyện của Hà Giang. Điều này cho thấy sự không đồng đều cực lớn bên trong các vùng núi.
Nguyên Nhân Sâu Xa Của Sự Phân Bổ Dân Số Không Đồng Đều
Sự phân bổ dân số với mật độ thấp ở các vùng trên không phải là ngẫu nhiên, mà là kết quả của sự tương tác phức tạp giữa nhiều yếu tố.
1. Yếu Tố Tự Nhiên
- Địa hình: Đây là yếu tố quyết định hàng đầu. Các vùng có địa hình núi cao, dốc đứng, thung lũng hẹp, ít đất bằng phẳng không thể hỗ trợ sản xuất nông nghiệp trồng trọt quy mô lớn và xây dựng các khu đô thị, làng mạc lớn. Khả năng mở rộng không gian sinh sống rất hạn chế.
- Khí hậu: Khí hậu lạnh giá, sương mù quanh năm ở vùng cao như Hà Giang, Lào Cai; hay mùa khô kéo dài ở Tây Nguyên làm hạn chế khả năng canh tác và ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh hoạt của người dân.
- Tài nguyên nước: Thiếu nguồn nước mặt và ngầm ổn định cho sinh hoạt và sản xuất là một hạn chế lớn ở nhiều vùng núi.
- Thảm thực vật và đất đai: Rừng đầu nguồn chiếm diện tích lớn, đất đai cằn cỗi, dễ bị xói mòn, năng suất nông nghiệp thấp.
2. Yếu Tố Kinh Tế – Xã Hội
- Cơ sở hạ tầng: Giao thông (đường bộ, đường sắt) khó khăn, vắng mặt. Hệ thống điện, nước sạch, trường học, trạm y tế chưa đáp ứng được nhu cầu. Điều này làm giảm khả năng thu hút và giữ chân dân cư, đặc biệt là giới trẻ.
- Cơ hội việc làm: Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp tự cung tự cấp, sản xuất lâm sản (lâm sản ngoài quế, hồ tiêu…), du lịch sinh thái còn nhỏ. Thiếu các khu công nghiệp, khu vực dịch vụ phát triển nên ít thu hút lao động từ nơi khác.
- Giáo dục và y tế: Trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực thường thấp hơn so với đồng bằng. Các cơ sở y tế tuyến cuối, thiếu bác sĩ, thuốc men, khiến người dân phải di chuyển xa đi chữa bệnh.
3. Yếu Tố Lịch Sử và Chính Sách
- Lịch sử định cư: Các vùng núi phía Bắc là nơi cư trú của nhiều dân tộc thiểu số từ lâu đời, với mô hình sinh kế du canh du cư hoặc trồng xen. Dân số phát triển chậm và ổn định trong thời gian dài.
- Chính sách phát triển: Mặc dù Nhà nước có nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ vùng dân tộc thiểu số và miền núi (giảm nghèo, xóa đói giảm nghèo, phát triển hạ tầng), nhưng quy mô và hiệu quả vẫn chưa bắt kịp với nhu cầu thực tế. Diện tích đất canh tác mở rộng rất hạn chế.
- Di cư: Đây là yếu tố then chốt. Do khó khăn về kinh tế, người dân, đặc biệt là thanh niên, liên tục di cư ra đồng bằng, ra nước ngoài làm việc. Tỷ lệ di cư ra nước ngoài (như đi Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản) của một số tỉnh miền núi phía Bắc như Hà Giang, Lào Cai, Điện Biên là rất cao. Điều này làm cho quy mô dân số tại chỗ không tăng, thậm chí có xu hướng giảm ở nhiều bản làng.
Xu Hướng Thay Đổi Mật Độ Dân Số Trong Thời Gian Gần Đây
Mặc dù mật độ dân số ở các vùng núi vẫn thấp nhất, nhưng xu hướng trong 10 năm qua cho thấy một số điểm thay đổi:
- Tăng trưởng dân số chậm hơn đồng bằng: Tốc độ tăng trưởng dân số tự nhiên ở các tỉnh miền núi thường cao hơn đồng bằng (do tỷ lệ sinh của đồng bào dân tộc thiểu số cao hơn), nhưng tốc độ tăng trưởng dân số tổng (kể cả di cư) lại thấp hơn nhiều do di cư ra ngoài mạnh mẽ.
- Đô thị hóa từng bước: Các thị xã, thị trấn tỉnh lỵ (như Hà Giang, Kon Tum, Điện Biên) có mật độ dân số tăng dần do người dân từ các huyện vùng sâu di chuyển đến trung tâm hành chính, thương mại tìm kiếm cơ hội.
- Ảnh hưởng của các dự án hạ tầng: Việc xây dựng các tuyến đường lớn (như đường Hồ Chí Minh qua Tây Nguyên, các tuyến đường liên vùng miền núi phía Bắc) có phần thúc đẩy sự di chuyển và định cư mới dọc theo các tuyến đường này, làm thay đổi mật độ tại một số điểm.
- Phát triển du lịch: Du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái phát triển tại một số điểm (như Sapa, Mù Cang Chải, Mai Châu, cao nguyên Bảo Lạc…) thu hút người dân địa phương và cả người từ nơi khác đến sinh sống, kinh doanh, làm tăng mật độ cục bộ.
Tuy nhiên, những thay đổi này chưa đủ để làm thay đổi bức tranh tổng thể: các vùng núi và cao nguyên xa xôi vẫn giữ vị trí có mật độ dân số thấp nhất, với những “điểm trắng” dân cư rộng lớn trên bản đồ.
So Sánh Thực Tế: Mật Độ Dân Số Thấp Nhất Không Phải Là Vùng Hoang Vu Không Người Ở
Việc nói một vùng có mật độ dân số thấp nhất không có nghĩa là vùng đó là hoang vu, không có người sinh sống. Trên thực tế, các vùng này là ngôi nhà của hàng trăm nghìn người dân tộc thiểu số với những nền văn hóa, phong tục, lịch sử đặc sắc. Sự thưa thãt về mặt số liệu mật độ che giấu một thực tế là sự phân bổ không đều cực độ: dân cư tập trung ở các thung lũng, ven sông, ven đường, trong khi những ngọn núi, đồi cao, rừng sâu vẫn là vùng không người hoặc chỉ có người đi buôn bán, chăn nuôi du canh.
Chẳng hạn, ở Hà Giang, mặc dù mật độ trung bình thấp, nhưng thung lũng Sà Phìn (nơi ở của vương tộc H’Mông) hay thị trấn Tam Sơn (Đồng Văn) lại rất đông đúc. Ngược lại, ngay trong một huyện như Mèo Vạc, những đỉnh núi cao, các bản làng nằm sâu trong rừng có thể chỉ có vài hộ gia đình. Điều này nhấn mạnh rằng mật độ thấp trung bình không phản ánh đầy đủ bức tranh đời sống con người tại chỗ.
Tóm Lại và Kết Luận
Từ những phân tích dựa trên số liệu thống kê chính thức và các yếu tố địa lý – xã hội, có thể khẳng định rằng vùng núi phía Bắc (đặc biệt là các tỉnh Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai) và vùng Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai) là những vùng có mật độ dân số thấp nhất Việt Nam. Trong đó, Hà Giang thường được ghi nhận là tỉnh có mật độ dân số trung bình thấp nhất cả nước.
Nguyên nhân cốt lõi là sự kết hợp giữa địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, cơ sở hạ tầng hạn chế và cơ hội kinh tế ít. Đây là hệ quả của quá trình lịch sử hình thành và phát triển, cũng như là thách thức lớn đối với công tác phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói giảm nghèo của Nhà nước. Sự phát triển của các khu vực này đòi hỏi sự đầu tư đồng bộ, thông minh, tôn trọng đặc thù văn hóa và sinh kế của người dân bản địa, đồng thời tận dụng lợi thế về cảnh quan, văn hóa để phát triển du lịch bền vững. Việc hiểu rõ sự phân bổ dân số này là cơ sở quan trọng cho mọi chiến lược quy hoạch, phát triển quốc gia hướng tới sự cân bằng và công bằng giữa các vùng miền. Thông tin tổng hợp từ các nguồn chính thống như interstellas.com.vn và Tổng cục Thống kê luôn là nền tảng đáng tin cậy để có cái nhìn khách quan về vấn đề này.
















