Quân khu 9 ở đâu là câu hỏi thường trực đối với nhiều người khi tìm hiểu về địa lý hành chính, lịch sử hào hùng và vai trò quan trọng của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Vùng đất cực Nam Tổ quốc này không chỉ giữ vị trí chiến lược về quốc phòng – an ninh mà còn là trung tâm phát triển kinh tế – xã hội đầy tiềm năng. Bài viết này của Inter Stella sẽ cung cấp cái nhìn toàn diện về vị trí địa lý, quá trình hình thành và những đóng góp không ngừng của Quân khu 9.
Quân khu 9 ở đâu: Vị trí chiến lược tại Đồng bằng sông Cửu Long
Quân khu 9 hiện nay tọa lạc tại vùng cực Nam của Tổ quốc, bao trọn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trù phú. Địa bàn này bao gồm 12 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, tạo nên một khu vực rộng lớn và đa dạng về địa hình. Cụ thể, các tỉnh thành thuộc địa bàn Quân khu 9 bao gồm: An Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Bến Tre, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ.
Tổng diện tích tự nhiên của vùng đồng bằng sông Cửu Long do Quân khu 9 quản lý lên đến hơn 36 nghìn km2. Đặc điểm nổi bật của khu vực này là sự hiện diện của 147 hòn đảo lớn nhỏ, trải dài trên một bờ biển dài 743 km, kéo dài từ Tiền Giang đến Kiên Giang. Không chỉ vậy, Quân khu 9 còn có chung đường biên giới với Campuchia, với 7 cửa khẩu quan trọng, tạo nên một vị thế địa chính trị và kinh tế đặc biệt. Vị trí này không chỉ giàu tiềm năng phát triển nông nghiệp, thủy sản mà còn đóng vai trò then chốt trong công tác phòng thủ, bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo phía Tây Nam của đất nước.
Lịch sử hình thành và thay đổi địa giới Quân khu 9
Lịch sử hình thành và phát triển của Quân khu 9 gắn liền với các giai đoạn kháng chiến và xây dựng đất nước đầy cam go. Trong Kháng chiến chống Pháp, vào ngày 10/12/1945, Chiến khu 8 và Chiến khu 9 chính thức được thành lập. Chiến khu 9 lúc bấy giờ bao gồm các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Rạch Giá, Hà Tiên, Bạc Liêu, Long Xuyên, Châu Đốc, Vĩnh Long và Trà Vinh, định hình rõ rệt phạm vi hoạt động của Quân khu 9 ban đầu.
Qua các thời kỳ, địa giới hành chính của vùng Quân khu 9 đã có nhiều sự điều chỉnh để phù hợp với tình hình chiến trường và công tác quản lý. Một năm sau thành lập, hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh được giao lại cho Chiến khu 8. Cuối năm 1947, Long Xuyên và Châu Đốc sáp nhập, sau đó chia thành Long Châu Tiền (thuộc Khu 8) và Long Châu Hậu (thuộc Khu 9), lấy sông Hậu làm ranh giới. Đến tháng 12/1950, tỉnh Hà Tiên nhập vào Long Châu Hậu, lấy tên tỉnh là Long Châu Hà và thuộc Khu 9, tiếp tục thay đổi vị trí các tỉnh thuộc Quân khu 9.
Tháng 5/1951, chiến trường Nam Bộ có sự thay đổi lớn về tổ chức. Nam Bộ được chia thành hai Phân Liên khu và một Đặc khu. Hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh sáp nhập thành tỉnh Vĩnh Trà, cùng với tỉnh Bến Tre của Chiến khu 8, được chuyển về Phân Liên khu miền Tây. Nhiều huyện của Rạch Giá cũng được sáp nhập vào Cần Thơ và Bạc Liêu, trong khi các huyện Bắc lộ Cái Sắn thuộc tỉnh Long Châu Hà. Như vậy, Phân Liên khu miền Tây lúc này gồm các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Trà, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Long Châu Hà, một sự tái tổ chức đáng kể về địa bàn Quân khu 9.
<>Xem Thêm Bài Viết:<>- Vị Trí Lưu Trữ Hệ Điều Hành Thông Dụng Hiện Nay
- Bạn là ai trong BlackPink? – Phân Tính Tính Cách Qua Nhân Vật Nhóm
- Cẩm Nang Thi Công Trần Thạch Cao Tại Long Biên
- Hình Ảnh Chung Cư Eco Green Sài Gòn: Khám Phá Không Gian Sống Đẳng Cấp Tại Quận 7
- Bán Chung Cư Phú Thọ Quận 11: Toàn Cảnh Thị Trường Tiềm Năng
Sau Hiệp định Giơnevơ, tháng 10/1954, Phân Liên khu miền Tây đổi thành Liên Tỉnh miền Tây, và tỉnh Rạch Giá được phục hồi. Đến cuối năm 1961 đầu năm 1962, Quân khu 9 (còn gọi là Quân khu 3) cùng Quân khu 8 (Quân khu 2) được thành lập trở lại. Quân khu 9 khi đó bao gồm các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng (thêm một phần tỉnh Bạc Liêu), Rạch Giá, Cà Mau (gồm một phần tỉnh Bạc Liêu) và Hà Tiên. Sự thay đổi tiếp tục vào năm 1969 với việc thành lập tỉnh Châu Hà và cuối năm 1974 đổi thành Long Châu Hà, bao gồm cả phần đất phía Nam sông Hậu của Long Xuyên. Giữa năm 1972, thị xã Cần Thơ được nâng cấp thành thành phố trực thuộc khu, và cuối năm 1973, Quân khu 9 thành lập lại tỉnh Bạc Liêu, đánh dấu những bước phát triển quan trọng trong cơ cấu các tỉnh Quân khu 9.
Cuối năm 1975, sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, hai Quân khu 8 và 9 được sáp nhập thành Quân khu 9 mới, bao gồm 9 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Cửu Long, Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang, Minh Hải. Tuy nhiên, đến năm 1978, tỉnh Long An được chuyển giao về địa bàn Quân khu 7. Sau đó, vào tháng 12/1991, tỉnh Cửu Long tách ra thành Vĩnh Long và Trà Vinh; tỉnh Hậu Giang tách thành Cần Thơ và Sóc Trăng. Tháng 12/1996, tỉnh Minh Hải tách ra thành Cà Mau và Bạc Liêu. Gần đây nhất, tháng 12/2003, tỉnh Cần Thơ tách thành thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương và tỉnh Hậu Giang, hình thành địa giới hành chính Quân khu 9 như chúng ta biết ngày nay với 12 tỉnh, thành phố.
Vai trò lịch sử của Quân khu 9 trong các cuộc kháng chiến
Trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh giành độc lập, quân và dân Quân khu 9 đã có những đóng góp vô cùng to lớn vào thắng lợi chung của dân tộc. Trên chiến trường sông nước Đồng bằng sông Cửu Long, nơi hội tụ nhiều dân tộc và tôn giáo, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, lực lượng vũ trang Quân khu 9 đã vượt qua muôn vàn khó khăn, chiến đấu dũng cảm, mưu trí sáng tạo.
Từ Kháng chiến chống Pháp đến Kháng chiến chống Mỹ, mỗi vùng đất thuộc vùng Quân khu 9 đều ghi dấu những chiến công hiển hách. Những địa danh như Cổ Cò, Giồng Dứa, Tầm Vu, Sóc Xoài, Cầu Kè, Trà Vinh, Bến Tre, Sóc Trăng, Nhật Nguyệt, An Biên đã trở thành biểu tượng của ý chí quyết thắng, tinh thần sáng tạo trong nghệ thuật quân sự. Đến thời kỳ chống Mỹ, các trận đánh tại Gò Quảng Cung, Giồng Thị Đam, Hòn Đất, Ấp Bắc, Đầm Dơi, Cái Nước, Chương Thiện, U Minh… đã minh chứng cho tinh thần đoàn kết quân dân và sự trưởng thành vượt bậc của các lực lượng vũ trang nhân dân. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Quân khu 9 lại tiếp tục tham gia cuộc chiến đấu mới, giải phóng đảo, bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Đồng thời, lực lượng còn giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, xây dựng lại cuộc sống và chính quyền mới.
Quân khu 9 với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ủy – Bộ Tư lệnh Quân khu 9 đã lãnh đạo, chỉ đạo Lực lượng vũ trang (LLVT) không ngừng phát huy truyền thống anh hùng. Họ đã thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự – quốc phòng, phối hợp cùng các địa phương xây dựng khu vực phòng thủ các tỉnh, thành phố vững chắc. Đồng thời, LLVT Quân khu 9 luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chủ động đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Quân khu 9. Những nỗ lực này đã góp phần quan trọng tạo thế và lực mới cho phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, thế trận chiến tranh nhân dân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Phát triển tiềm lực quốc phòng – an ninh và kinh tế – xã hội
Việc xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc, đặc biệt tập trung vào các tiềm lực chính trị – tinh thần, kinh tế – xã hội và quốc phòng – an ninh (QP-AN) luôn được Quân khu 9 chú trọng. Lực lượng vũ trang Quân khu đã và đang là lực lượng nòng cốt trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân nắm vững nhiệm vụ quân sự – quốc phòng, củng cố niềm tin với Đảng và chế độ XHCN, đồng thời nâng cao cảnh giác trước mọi âm mưu thủ đoạn của địch. Công tác giáo dục QP-AN được tổ chức hiệu quả, với hàng nghìn lớp bồi dưỡng cho hơn 286 nghìn người thuộc nhiều đối tượng, bao gồm cả chức sắc, chức việc các tôn giáo (trên 16 nghìn lượt người) và gần 6 triệu học sinh, sinh viên.
LLVT Quân khu 9 cũng tích cực phối hợp với chính quyền địa phương xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở. Từ năm 2003 đến nay, hơn 10 vạn lượt cán bộ chiến sĩ đã tham gia huấn luyện dã ngoại kết hợp làm công tác dân vận, tổ chức hàng ngàn cuộc tuyên truyền thu hút hơn 13,8 triệu lượt người tham dự. Họ đã bồi dưỡng và phát triển 8.012 đảng viên, đoàn viên, hội viên; tham gia xây dựng trên 6.746 cơ sở chính trị, hòa giải 661 vụ việc và ngăn chặn 170 vụ truyền đạo trái phép. Các hoạt động này không chỉ củng cố an ninh mà còn hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội, như giúp 4.351 học sinh bỏ học trở lại trường và phổ cập giáo dục tiểu học cho 3.308 người. Công tác đối ngoại quân sự với Campuchia cũng được thực hiện tốt, giúp bạn về kinh nghiệm chỉ huy, quản lý, đào tạo cán bộ và hỗ trợ kinh phí xây dựng quân đội, phát triển kinh tế – xã hội.
Việc xây dựng tiềm lực kinh tế – xã hội luôn gắn liền với củng cố, tăng cường QP-AN. Quy hoạch phát triển được thực hiện song song với việc củng cố phòng thủ đất nước, tạo thế trận vững chắc trong khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố. Hàng ngàn km đường bộ đã được mở rộng và làm mới, cùng với hệ thống thông tin liên lạc trên tuyến biên giới, ven biển, đảo và các trọng điểm nội địa, nâng cao khả năng cơ động và kết nối của Quân khu 9. Các khu dân cư được tổ chức, bố trí hợp lý tại các địa phương và Đoàn Kinh tế Quốc phòng 959, các nông, lâm trường của quân khu dọc biên giới Tây Nam. Hàng triệu ngày công lao động đã được huy động để xây dựng nhiều công trình chiến đấu, phòng thủ dọc tuyến biên giới, biển, đảo, tạo nên nhiều địa hình có lợi và thế trận liên hoàn, vững chắc. Gần 2.000 tỷ đồng cũng đã được đầu tư để xây dựng doanh trại cho LLVT, đảm bảo cơ sở vật chất cho sự phát triển của Quân khu 9.
Nâng cao chất lượng xây dựng Đảng và sức mạnh chiến đấu của Lực lượng vũ trang
Công tác xây dựng Đảng bộ Quân khu 9 luôn đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh (TSVM) và không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của LLVT. Các cấp ủy, tổ chức cơ sở Đảng được xây dựng TSVM, cùng với các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc. Hiện có trên 90% tổ chức Đảng đạt TSVM và 80% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ, với 97,22% chi bộ đại đội chiến đấu có chi ủy. Hơn 10 nghìn đảng viên đã được phát triển, nâng tỷ lệ lãnh đạo của Đảng bộ Quân khu đạt 54,29% (tăng 17,9% so với năm 2001). Đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn ngày càng được nâng cao, với 14% có trình độ cao đẳng, 40% đại học và 2,93% sau đại học.
Chất lượng huấn luyện chiến đấu và giáo dục chính trị của LLVT Quân khu 9 không ngừng được cải thiện. 100% các đơn vị đã diễn tập các phương án sẵn sàng chiến đấu, và 100% đạt yêu cầu huấn luyện chiến đấu với 75% khá giỏi, tỷ lệ quân số huấn luyện đạt từ 97,33% trở lên. Quân khu 9 đã tham gia 34 lần hội thao, hội thi cấp Bộ, đạt nhiều giải thưởng cao như 9 giải Nhất, 9 giải Nhì, 8 giải Ba và 1 giải Tư toàn đoàn. Gần 5 vạn lượt cán bộ chỉ huy phân đội và nhân viên chuyên môn kỹ thuật đã được đào tạo và đào tạo lại. Sự phối hợp chặt chẽ giữa Quân sự – Công an – Biên phòng đã đẩy mạnh các hoạt động trị an ở cơ sở, làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Việc xây dựng đơn vị chính quy có nhiều tiến bộ, với tình hình vi phạm kỷ luật hàng năm đều giảm đáng kể (từ 1,02% năm 2001 xuống còn 0,098% vào tháng 5/2010).
Trong công tác tăng gia sản xuất, Quân khu 9 đã đẩy mạnh mô hình VAC (Vườn – Ao – Chuồng), thu hoạch 131.506 tấn thịt cá, 739.150 tấn rau củ quả, và 258.455 tấn lương thực. Điều này giúp đưa vào bữa ăn bộ đội bình quân 2.000 đồng/người/ngày (tăng so với năm 2001 là 1.440 đồng), đảm bảo quân số khỏe hàng năm đạt 98,67%. Có 82% đơn vị đạt tiêu chuẩn quân y 5 tốt, cùng với việc xây dựng 33 bệnh xá, 05 bệnh viện dã chiến, bệnh viện khu vực, và 07 đội điều trị dự bị động viên với tổng số 1.400 giường bệnh. Đến nay, doanh trại, nhà ở cho 100% Trung đoàn BB đủ quân, các trung, lữ đoàn binh chủng, nhà trường, bệnh viện đã được xây dựng. Cơ sở vật chất của Quân khu 9 không ngừng được củng cố, góp phần tạo nên môi trường sống và làm việc tốt hơn cho cán bộ, chiến sĩ.
Công tác dân vận, chính sách hậu phương quân đội và đoàn kết quân dân
Quân khu 9 luôn thực hiện có hiệu quả công tác dân vận, chính sách hậu phương quân đội, góp phần tăng cường mối đoàn kết quân dân. Hơn 2 triệu lượt bộ đội thường trực, DQTV, DBDV của LLVT quân khu đã tham gia cứu hộ, cứu nạn, giúp nhân dân phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt. Điển hình là hai đợt chống cháy rừng U Minh vào năm 2002 và 2005, Quân khu 9 đã huy động hơn 1.000 quân và hàng chục ngàn lượt lực lượng DQTV, DBDV, cứu chữa kịp thời hàng trăm ngàn hecta rừng tràm. 218.000 bộ đội chủ lực, DQTV và DBDV đã giúp nhân dân các tỉnh ven biển Tây Nam bộ phòng chống, khắc phục cơn bão số 5 (1997) và cơn bão số 9 (2006), trục vớt 200 tàu thuyền gặp nạn, di dời 14.178 hộ gia đình, dựng lại và sửa chữa 25.964 ngôi nhà, xây mới 10.386 ngôi nhà, tặng quà trị giá 25 tỷ đồng và cứu trợ 142.260 kg gạo cho gia đình nghèo gặp thiên tai.
Đặc biệt, trong sự cố sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ, Quân khu 9 đã điều động 500 cán bộ, chiến sĩ và đội ngũ y, bác sĩ, cứu sống 29/30 trường hợp, trong đó có 17 ca trọng thương. Lực lượng cũng tiếp nhận, bảo quản và bàn giao 49 thi thể về gia đình mai táng, thể hiện tinh thần “vì nhân dân quên mình”. Bộ đội đã giúp dân 1,93 triệu ngày công lao động: làm, sửa chữa 1.809 km đường giao thông nông thôn; làm mới và sửa chữa trên 2.000 cây cầu, 402 cống, đập; làm thủy lợi, đắp đê bao chống lũ lụt hơn 220 km; thu hoạch, chăm sóc hoa màu trên 2.862 hecta. Công tác an sinh xã hội cũng được đẩy mạnh với 1.400 nhà tình nghĩa, 6.100 nhà đại đoàn kết, nhà đồng đội được xây dựng với tổng trị giá 225 tỷ đồng. Gần 100 tỷ đồng đã được đóng góp vào chương trình xóa đói giảm nghèo, quỹ “vì người nghèo” và quỹ “ủng hộ nạn nhân chất độc da cam”.
Quân khu 9 cũng phụng dưỡng 130 Mẹ Việt Nam anh hùng, thăm và tặng quà các tổ chức, sở sở thờ tự, gia đình tín đồ tôn giáo, và các gia đình dân tộc Khơme với giá trị gần 10 tỷ đồng. Hỗ trợ các gia đình quân nhân khó khăn 3,63 tỷ đồng, khám chữa bệnh cho 249.140 lượt người và cấp thuốc trị giá 6,292 tỷ đồng. Trong việc thực hiện các Quyết định 290, 188, 142 của Thủ tướng Chính phủ, Quân khu 9 đã tiếp nhận 135.464 trường hợp, chi trả chế độ cho 107.990 trường hợp. Đặc biệt, lực lượng đã tích cực tìm kiếm, cất bốc và quy tập được 5.234 hài cốt liệt sĩ ở Campuchia về nước và 2.145 hài cốt liệt sĩ trong nước, thể hiện sự tri ân sâu sắc đối với các anh hùng liệt sĩ.
Trong quá trình công tác, Quân khu 9 đã vinh dự có 05 tập thể được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT thời kỳ đổi mới; 56 tập thể và cá nhân được tặng thưởng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc, cùng nhiều Cờ thi đua Chính phủ, Bộ Quốc phòng và Bằng khen của Chính phủ, Bộ Quốc phòng, ghi nhận những thành tích xuất sắc trong phong trào Thi đua Quyết thắng và các nhiệm vụ được giao.
Nhìn lại hành trình lịch sử và những đóng góp to lớn, Quân khu 9 ở đâu không chỉ là một đơn vị hành chính quân sự mà còn là biểu tượng của tinh thần quật cường, đoàn kết của nhân dân miền Tây Nam Bộ. Với vị trí chiến lược và những nỗ lực không ngừng nghỉ, Quân khu 9 tiếp tục đóng vai trò trọng yếu trong việc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển kinh tế – xã hội của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Website Inter Stella hy vọng đã cung cấp cho quý độc giả những thông tin hữu ích về địa bàn quan trọng này.
Các câu hỏi thường gặp về Quân khu 9
Quân khu 9 hiện nay bao gồm những tỉnh, thành phố nào?
Tính đến thời điểm hiện tại, Quân khu 9 bao gồm 12 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Cần Thơ (thành phố trực thuộc Trung ương), Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh và Vĩnh Long.
Quân khu 9 được thành lập khi nào?
Chiến khu 9 (tiền thân của Quân khu 9) được thành lập vào ngày 10/12/1945 trong bối cảnh Kháng chiến chống Pháp, với địa giới ban đầu gồm 9 tỉnh tại miền Tây Nam Bộ.
Vai trò chính của Quân khu 9 hiện nay là gì?
Ngoài nhiệm vụ quân sự – quốc phòng, bảo vệ biên giới và chủ quyền quốc gia, Quân khu 9 còn tích cực tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, thực hiện công tác dân vận, chính sách hậu phương quân đội và phòng chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn trên địa bàn.
Vùng đất này có những đặc điểm địa lý nổi bật nào?
Vùng đất mà Quân khu 9 quản lý nằm ở cực Nam Tổ quốc, thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, có tổng diện tích trên 36 nghìn km2, với 147 hòn đảo lớn nhỏ, 743 km bờ biển và chung đường biên giới với Campuchia cùng 7 cửa khẩu. Đây là khu vực sông nước, trù phú và đa dạng về địa hình.














